I. Giới thiệu
Có rất nhiều loại bệnh không lây nhiễm khác nhau, tuy nhiên hiện nay Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG) khuyến cáo tập trung vào 4 nhóm bệnh chính gồm bệnh tim mạch (tăng huyết áp, đột quỵ, suy tim, bệnh mạch vành…), đái tháo đường (chủ yếu là type IIa), các bệnh ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính- là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới.
Theo ước tính của TCYTTG, năm 2008 trong tổng số 57 triệu trường hợp tử vong toàn cầu có 36 triệu trường hợp - chiếm gần 2/3- là do bệnh không lây nhiễm (BKLN). Gánh nặng BKLN lớn nhất ở các nước thu nhập trung bình và thấp, chiếm gần 80% số tử vong do BKLN trên toàn cầu. Thêm vào đó, tử vong sớm do BKLN cũng phổ biến ở những nước này với 48% số trường hợp tử vong xảy ra trước 70 tuổi, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước thu nhập cao chỉ chiếm 24%.
Ước tính tổng chi phí cho BKLN ở những nước đang phát triển giai đoạn từ 2011-2025 sẽ lên đến 7.000 tỷ USD (bình quân mỗi năm gần 500 tỷ USD). Tính theo đầu người, tổn thất hàng năm có mức trung bình là 25 USD tại các nước có thu nhập thấp, 50 USD tại các nước có thu nhập trung bình thấp và 139 USD tại các nước có thu nhập trung bình cao.
Bảng 1: Gánh nặng BKLN trên các nhóm đối tượng (WHO-2010)
|
|
Chung
|
Nước phát triển
|
Nước đang phát triển
|
|
Tử vong trước 70 tuổi
|
44%
|
26%
|
48%
|
|
Tử vong trước 60 tuổi
|
25%
|
13%
|
29%
|
|
Gia tăng gánh nặng từ năm 2010-2020
|
15%
|
Không đổi
|
20%
|
Tại Việt Nam, TCYTTG ước tính 430.000 trường hợp tử vong trong năm 2008 là do BKLN, chiếm 75% tổng số tử vong cả nước. Trong số này các bệnh tim mạch chiếm 40%, ung thư 14%, bệnh hô hấp mãn tính 8%, và bệnh tiểu đường 3%. BKLN chiếm 71% tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam; cao hơn khoảng sáu lần so với các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em (13%).
Trong vòng 10 năm qua, Việt Nam đã có những nổ lực đáng kể phòng chống BKLN bao gồm thiết lập chương trình phòng chống BKLN và vận động đưa phòng chống BKLN tới mức độ ưu tiên cao hơn, phát triển các mô hình quản lý BKLN dựa vào cộng đồng và bước đầu xây dựng hệ thống giám sát. Tuy nhiên những hành động hiện tại vẫn chưa đủ để ngăn ngừa sự gia tăng gánh nặng BKLN.
I. Các hoạt động phòng chống BKLN
Bảng 2: Các giải pháp và lĩnh vực hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm
|
1. Tác động vào môi trường (thay đổi kinh tế vĩ mô và các chính sách)
Chính quyền
Chính sách và luật pháp
Xây dựng môi trường
|
2. Thay đồi lối sống
Thay đổi hành vi
Truyền thông giáo dục sức khỏe
|
3. Can thiệp lâm sàng
Sàng lọc, phát hiện sớm
Điều trị, quản lý
Phục hồi chức năng
Chăm sóc giảm nhẹ
|
|
4. Vận động ủng hộ
|
|
5. Nghiên cứu, giám sát, đánh giá
|
|
6. Hành động của ngành y tế
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Cải thiện hệ thống y tế
|
7. Hành động của toàn xã hội
Vai trò lãnh đạo, chính quyền
Phối hợp liên ngành
Huy động cộng đồng
|
| |
|
|
|
1. Xây dựng môi trường hỗ trợ (Dự phòng cấp 0)
- Chủ yếu là xây dựng và thực thi các chính sách, quy định nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thay đổi hành vi nguy cơ. Ví dụ phê duyệt và thực hiện công ước về khung kiểm soát thuốc lá: tăng thuế thuốc lá, cấm quảng cáo, khuyến mại các sản phẩm thuốc lá ...Xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện cho người dân có thể tiếp cận với các sự lựa chọn có lợi cho sức khỏe như thực phẩm, nhà ở ...
- Có hiệu quả rất cao vì tạo ra môi trường có lợi cho sức khỏe loại bỏ nguyên nhân phát sinh hành vi nguy cơ.
- Việc thực hiện tương đối khó khăn vì đòi hỏi cam kết chính trị cao, vai trò chỉ đạo điều hành của chính quyền, hệ thống thực thi chính sách vững mạnh và sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
2. Thay đổi hành vi - lối sống (Dự phòng cấp I)
- Chủ yếu là các giải pháp về truyền thông-giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của cộng đồng, thúc đẩy thay đổi hành vi.
- Bao gồm cả các giải pháp huy động cộng đồng tham gia xây dựng nơi sống, nơi làm việc, học tập có moi